Luật sư bào chữa tội dùng giấy tờ giả lừa đảo khách
Luật sư bào chữa tội dùng giấy tờ giả lừa đảo khách
Luật sư bào chữa tội dùng giấy tờ giả lừa đảo khách
Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, người dưới 16 tuổi vẫn có thể bị xử phạt hành chính với hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản.
Nếu xảy ra thiệt hại, người lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn phải đền bù cho người bị lừa đảo theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thế như sau:
- Người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
Như vậy, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Đồng thời, có thể bị phạt tiền đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đến 05 năm hoặc tịch thu toàn bộ tài sản.
1. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị xử lý như thếnào?
Thế nào là lừa đảochiếm đoạt tài sản?
Lừa đảo chiếm đoạt tàisản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tintưởng và giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt.
Để lừa được chủ sở hữuhoặc người quản lý tài sản, người thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sảncó thể sử dụng nhiều cách khác nhau như: bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giảdanh người có chức vụ, quyền hạn, giả danh cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội…
Tùy thuộc vào giá trịtài sản bị chiếm đoạt mà người lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt xử lýhành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Nhà nước.
Mức phạt hành chínhcho hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Đối với hành vi lừađảo chiếm đoạt tài sản của người khác lần đầu và chưa đến mức chịu trách nhiệmhình sự (tài sản bị lừa đảo có trị giá dưới 02 triệu, không phải phương tiệnkiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, không gây ảnh hưởng xấu đến anninh, trật tự, an toàn xã hội) thì bị phạt hành chính.
Theo khoản 1 Điều 15Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định, phạt tiền từ 01 - 02 triệu đồngđối với hànhvi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Như vậy, người thựchiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới mức chịu trách nhiệm hình sự cóthể bị phạt hành chính đến 02 triệu đồng.
Truy cứu trách nhiệmhình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm2017.
Theo đó, người nàobằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 02 đến dưới50 triệu đồng hoặc dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sauđây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến03 năm:
- Đã bị xử phạt viphạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tộinày hoặc về một trong các tội: cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản,cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắptài sản, lạm dụng uy tín nhằm chiếm đoạt tài sản, sử dụng mạng máy tính, mạngviễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa đượcxóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấuđến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phươngtiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Phạt tù từ 02 năm đến07 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Phạm tội có tổ chức;
- Có tính chất chuyênnghiệp;
- Chiếm đoạt tài sảntrị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ,quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảoquyệt;
Phạt tù từ 07 năm đến15 năm khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
- Chiếm đoạt tài sảntrị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
- Lợi dụng thiên tai,dịch bệnh.
Nặng nhất, người phạmtội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi lừa đảo chiếmđoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên hoặc lợi dụng hoàn cảnh chiếntranh, tình trạng khẩn cấp để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bên cạnh đó, ngườiphạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10 - 100 triệuđồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Lưu ý: Căn cứ theoĐiều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phảichịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngườidưới 16 tuổi vẫn có thể bị xử phạt hành chính với hành vi lừa đảo chiểm đoạttài sản.
Nếu xảy ra thiệt hại,người lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn phải đền bù cho người bị lừa đảo theo quyđịnh tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015. Cụ thế như sau:
- Người chưa đủ 15tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệthại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gâythiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu.
- Người từ đủ 15 tuổiđến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình;nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếubằng tài sản của mình.
Như vậy, người phạmtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03năm, phạt tù đến 20 năm hoặc tù chung thân. Đồng thời, có thể bị phạt tiền đến100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhấtđịnh đến 05 năm hoặc tịch thu toàn bộ tài sản.
2. Phân tích việc cấu thành tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản?
Nội dung đề nghị tưvấn: Em muốn hỏi trường hợp như sau: Mẹ e có làm ăn với ông Q trong suốt thờigian dài, nhưng do buôn bán không được nên đã thiếu ông Q 20 cây bột ( 20triệu) lúc đầu vẫn cho thiếu vì vẫn còn làm ăn nhưng khi mẹ e mua ít lại thìông Q không chịu bán và đòi mẹ em trả hơn phân nữa số tiền đã nợ nhưng do hoàncảnh khó khăn mẹ em xin trả dần là mỗi tháng trả 400 ngàn mà ông Q không chịunói mẹ e là chiếm đoạt tài sản, vậy mẹ em có phải như ông Q nói không, nếukhông mẹ em có thể thưa lại ông Q về tội vu khống được không??? em xin hết mongtổ tư vấn luật giúp em.
Chân thành cảm ơn.
Luật sư Gia Đình trảlời:
Điều 174 Bộ luật hìnhsự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưsau:
“1. Người nào bằng thủđoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đếndưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trườnghợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt viphạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tộinày hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172,173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấuđến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
…”
Lừa đảo chiếm đoạt tàisản được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quảnlý tài sản tin nhầm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Theo thông tin bạncung cấp thì hành vi của mẹ bạn không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnmà chỉ là quan hệ mua bán dân sự. Do vậy, ông Q nói mẹ bạn chiếm đoạt tài sảnlà không có căn cứ.
Điều 156 Bộ luật hìnhsự 2015 quy định về tội vu khống như sau:
“1. Người nào thựchiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loantruyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khácphạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
…”
Hành vi vu khống làhành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danhdự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặtlà người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
Hành vi của ông Q chỉđơn thuần là nói mẹ bạn phạm tội, không tố cáo và chưa gây thiệt hại gì nênchưa có căn cứ cấu thành tội vu khống.
3. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đượchưởng án treo?
Hỏi: Bạn tôi bi Việnkiểm sát nhân dân cấp huyện truy tố về tội lừa đảo theo Điều 139 khoản 2 điểme. Bạn tôi đã khắc phục hậu quả, là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ dưới 6tuổi chưa có tiền án tiền sự, gia đình có ông nội và bố đẻ có công với cáchmạng. Hành vi này mức án thế nào, có được hưởng án treo không?
Trả lời có tính chất thamkhảo
Chào bạn!
Khoản 2 Điều 139 Bộluật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có quy định về Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản như sau:
“2. Phạm tội thuộc mộttrong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyênnghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ,quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảoquyệt;
e) Chiếm đoạt tài sảncó giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêmtrọng.”
Bên cạnh đó, Điều 60Bộ luật Hình sự năm 1999 có quy định về Án treo cụ thể như sau:
“1. Khi xử phạt tùkhông quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảmnhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án chohưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
…
5. Đối với người đượchưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết địnhbuộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt củabản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự.”
Như vậy, trong trườnghợp nói trên, bạn của bạn bị Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện truy tố về tộilừa đảo theo Điều 139 khoản 2 điểm e “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươitriệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” và tùy thuộc vào các tình tiết tăngnặng trách nhiệm hình sự, hoặc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự màbạn của bạn có thể bị Tòa án nhân dân tuyên phạt hình phạt tù với mức hình phạttừ 2 đến 7 năm tù.
Mặt khác, nếu hành viphạm tội nói trên của bạn của bạn bị Tòa án xử phạt tù nhưng không quá ba năm.Bạn của bạn có nhân thân tốt, các tình tiết mà bạn kể trên của bạn của bạn đượcTòa án xác định là các tình tiết giảm nhẹ và nếu Tòa án xét thấy không cần phảibắt bạn của bạn phải chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án có thể cho bạn của bạnhưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
4. Dùng giấy tờ giả lừa đảo, phạm tội gì?
Khi xử lý, các cơ quantố tụng thiếu thống nhất về tội danh của người vi phạm: Có ý kiến cho rằng chỉcó thể xử lý hình sự người vi phạm về một tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sảnhoặc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Ngược lại, cũng có ý kiếncho rằng phải xử lý về cả hai tội… Theo Điều 139 BLHS, tội lừa đảo chiếm đoạttài sản là người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản củangười khác. Thủ đoạn gian dối được coi là dùng công cụ, phương tiện thực hiệntội phạm của người phạm tội. Tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội sửdụng công cụ, phương tiện khác nhau để lừa được người khác. Nếu phương tiện,công cụ mà người phạm tội sử dụng cấu thành một tội phạm cụ thể thì người phạmtội phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội. Trường hợp làm giả giấy tờ và nếuhành vi này cấu thành tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức thì người phạmtội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnvà tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Trường hợp này cũng giống trườnghợp sử dụng súng quân dụng để giết người thì người phạm tội phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội giết người và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Vềlý luận, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội cấu thành vật chất nhưng khôngvì thế mà cho rằng người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản thì không cấuthành tội này. Cũng như đối với các tội phạm cấu thành vật chất khác được thựchiện do cố ý, hậu quả chưa xảy ra là ngoài ý muốn của người phạm tội. Nếu chorằng đối với tội cấu thành vật chất, hậu quả chưa xảy ra thì chưa cấu thành tộiphạm, có lẽ BLHS cũng không cần quy định trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạmtội chưa đạt nữa. Nếu người phạm tội mới chuẩn bị giấy tờ giả (công cụ, phươngtiện phạm tội) chưa giao dịch với người bị hại thì trường hợp lừa đảo chiếmđoạt tài sản này mới ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Người phạm tội chỉ bị truycứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4Điều 139 BLHS (tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng).Nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 139 BLHS thì khôngbị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu người phạm tội đã chuẩn bị giấy tờ giả(công cụ, phương tiện phạm tội) đã giao dịch với người bị hại nhưng người bịhại phát hiện, không giao tài sản thì trường hợp này là phạm tội chưa đạt.Người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự không phân biệt thuộc khoảnnào của Điều 139 BLHS. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, tòa sẽ áp dụng thêmĐiều 18 BLHS (phạm tội chưa đạt). Trở lại vụ việc báo nêu, H. mới đến văn phòngcông chứng để công chứng giấy tờ giả thì bị phát hiện; H. chưa đưa giấy tờ giảcho ông N. nên với tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, trường hợp của H.là phạm tội chưa đạt (chưa công chứng được). Còn với tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản, hành vi của H. ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. H. có ý định chiếm đoạt 200triệu đồng, thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 BLHS (tội phạm rấtnghiêm trọng) nên H. bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
5. Tố cáo lừa đảo tiền xin việc được không?
Thưa luật sư! Luật sưtư vấn giúp tôi trường hợp cụ thể như sau : tôi tên T, sinh năm 1985 tôi vàchồng quê Quảng Ngãi được mẹ xây nhà để lập nghiệp ở Đà Nẵng. Tôi và N quennhau khi học cùng lớp liên thông đại học kế toán tại Đà Nẵng. N nói đang làm ởcông an thành phố. Tôi ngỏ lời muốn nhờ N xin việc, lúc đầu chỉ có ý định xinchỗ nào làm giờ hành chính để có thời gian chăm con nhưng cứ như đang bị cuốnvào vòng xoáy. N nói xin vào Cục quản trị T26, không cần tiền (tôi nghĩ N thậtthà nên tôi nghĩ mình nên biết điều và bảo: mình nên bỏ bì thư để bồi dưỡng họuống nước thì bỏ bao nhiêu, N bảo tùy T nên tôi đã bỏ bì 5 triệu. N bảo phải cóchứng chỉ tin và anh văn mới có quyết định. Tôi đã cố gắng đăng ký và thi vì Nnói bằng giả không được vì có máy soi. Khi tôi thi thì N sinh con, trong thờigian ấy tôi cũng nhắn tin hối thì N nói sắp có quyết định, và N nói đưa thêm 5triệu để chiêu đãi họ ăn nhậu. Rồi tôi vẫn thấy lâu nên hối thì N bảo do N ở cữkhông đi được nên tốc độ hơi lâu. Rồi khi N hết ở cữ đã điện thoại gặp tôi thìtôi hỏi bỏ thêm để họ làm nhanh vậy nên đưa thêm bao nhiêu, N bảo tùy nên tôiđã đưa 3 triệu vì trong ví không đem theo nhiều.
Rồi hôm sau N điệnthoại nói bỏ thêm 2 triệu vì 3 triệu hơi ít và tôi đồng ý. Cứ hẹn với tôi làsắp có quyết định nên em chờ. Sau đó N điện thoại gặp tôi và nói chú sếp ở cơquan điện thoại nói tìm cho chú 1 người vì cấp trên đưa 1 chỉ tiêu vào cơ quannhưng chưa có, nói tôi có muốn không? Làm trong công an thì có tương lai hơnvới giá 100 triệu đưa trước 50 triệu còn 50 triệu thì khi làm tháng lương đầuthì đưa nốt. Và N đã thuyết phục được chồng tôi, nói rằng nếu không được sẽ trảlại tiền. Và tôi đã ra ngân hàng rút 50 triệu đưa cho N tại ngân hàng. Sau đó Nđiện thoại bảo có vị trí ở quận cẩm lệ gần nhà đầu tháng 2/2016 làm , nếu muốnnhanh thì phải đóng thêm 20 triệu cho chắc chắn. Thế là vợ chồng em chạy khắpnơi cũng mượn được 20 triệu để đưa. Nhưng trong lúc chờ nhập khẩu thì tôi pháthiện N cũng đang chạy việc cho 1 đứa em con cô nhưng vẫn chưa được, lúc ấy tôithấy lo nhưng nghĩ nếu không được thì lấy tiền lại. Do trục trặc nhập khẩu nêntôi quyết định ngưng không làm và N nói qua tết tây sẽ lấy tiền về, và hẹn ngàyđưa.
Nhưng không ngờ đếnngày hẹn N trốn và tắt máy. Trường hợp của tôi không có giấy nợ thì có tố cáođược không hay phải làm sao xin luật sư tư vấn cho tôi?
Luật sư Gia Đinh trảlời:
Theo thông tin bạncung cấp thì N nhận tiền xin việc từ bạn, nhưng sau khi nhận tiền thì N khônggiúp được, đến ngày hẹn trả N không trả, trốn và tắt máy. Với hành vi này củaN, tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế mà có thể cấu thành tội lừa đảochiếm đoạt tài sản hay một tội danh khác, hành vi của bạn chưa đúng chuẩn mựcvà hành vi của N cũng sai. Cụ thể chúng tôi đưa ra một số nhận định sau để bạncó thể tham khảo:
Tội đưa hối lộ?
Tội đưa hối lộ đượcquy định tại Điều 364 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:
Điều 364. Tội đưa hốilộ
1. Người nào trực tiếphay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặcngười khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ,quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của ngườiđưa hối lộ...
Như vậy, từ quy địnhtrên có thể hiểu đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chấtkhác hoặc lợi ích phi vật chất trực tiếp hoặc qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưacho người có chức vụ, quyền hạn, hoặc người khác hoặc tổ chức khác để người cóchức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu củangười đưa hối lộ.
Các yếu tố cấu thànhtội đưa hối lộ bao gồm:
Thứ nhất, khách thể :các dấu hiệu thuộc khách thể của tội đưa hối lộ là xâm phạm sự hoạt động đúngđắn của các cơ quan, tổ chức.
Thứ hai, mặt khách quan:các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội đưa hối lộ: là hành vi đưa bất kỳ lợiích nào cho người có chức vụ quyền hạn. Hành vi ở đây được thể hiện dưới hìnhthức: đã đưa hoặc sẽ đưa trực tiếp hoặc qua trung gian. Việc quy định hành vihối lộ bao gồm cả hành vi "đưa" hoặc “sẽ đưa” có thể sẽ gây khó khăncho quá trình điều tra, truy tố tội phạm liên quan đến xác định chứng cứ vàthời điểm hoàn thành tội phạm này.
Thứ ba, mặt chủ quan:tội phạm thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
– Trường hợp người đưahối lộ đưa nhầm cho người không có chức vụ quyền hạn thì vẫn cấu thành tội đưahối lộ, trường hợp người nhận biết đưa nhầm mình là người có chức vụ quyền hạnmà vẫn nhận của hối lộ thì người nhận sẽ bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản.
– Tội đưa hối lộ cóđộng cơ vụ lợi. Mục đích là để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làmmột việc vì lợi ích hoặ theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tuy nhiên, động cơkhông phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của loại tội phạm này.
Thứ tư, chủ thể: Chủthể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng:
+ Có tổ chức;
+ Dùng thủ đoạn xảoquyệt;
+ Dùng tài sản của Nhànước để đưa hối lộ;
+ Lợi dụng chức vụ,quyền hạn;
+ Phạm tội 02 lần trởlên;
+ Của hối lộ là tiền,tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng trở lên.
+/ chủ thể: Các dấuhiệu về chủ thể của tội đưa hối lộ Bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm chịu tráchnhiệm hình sự và đến một độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự thì đều cóthể trở thành chủ thể của tội phạm này.
Tội nhận hối lộ?
- Tội nhận hối lộ đượcquy định tại Điều 354 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:
Điều 354. Tội nhận hốilộ
1. Người nào lợi dụngchức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợiích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác đểlàm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ,..
Từ quy định trên, tộinhận hối lộ được hiểu là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụngchức vụ, quyền hạn của mình, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhậnbất kì lợi ích nào do Bộ luật hình sự quy định dưới bất kì hình thức nào chomình hoặc cho người, tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi íchhoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Các yếu tố cấu thànhtội nhận hối lộ
Thứ nhất, mặt kháchquan: Mặt khách quan của tội nhận hối lộ có các dấu hiệu sau đây:
Về hành vi: Có hành vilợi dụng chức vụ, quyền hạn. Được hiểu là sử dụng chức vụ, quyền hạn như mộtphương tiện để thực hiện tội phạm. Có hành vi đã nhận hoặc sẽ nhận (nghĩa làtuy nhận nhưng có việc hứa hẹn, thỏa thuận trước việc nhận), tiền, tài sản hoặclợi ích vật chất, phi vật chất khác dưới bất kì hình thức nào (như tiền, vàng,xe gắn máy, quà biếu…). Việc nhận tiền, tài sản… có thể được thực hiện trựctiếp giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ nhưng cũng có thể qua trunggian (như qua người môi giới, qua bưu điện…). Việc nhận tiền, tài sản hoặc cáclợi ích đó có thể là cho chính người đó nhưng cũng có thể cho người khác hoặctổ chức khác.
Lưu ý: Các hành vi nêutrên phải gắn liền với nhau và với điều kiện là:
– Để làm một việc(hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ (ví dụ: Cán bộphòng quản lí đô thị nhận hối lộ rồi tiến hành cấp giấy phép xây dựng nhanhhơn…).
– Hoặc để không làmmột việc (không hành động) vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ(ví dụ: Cán bộ hải quan nhận hối lộ rồi bỏ qua không lập thủ tục xử phạt ngườivi phạm hành chính về hải quan…).
– Đối với trường hợpngười có chức vụ, quyền hạn chủ động đòi hối lộ, thì tội phạm được coi là hoànthành tính từ thời điểm người phạm tội tỏ rõ thái độ đòi hối lộ và người đưahối lộ chấp nhận sự đòi hỏi đó. Trường hợp một trong hai bên tỏ thái độ hoặcđưa ra đề nghị đưa hối lộ nhưng một trong hai bên không chấp nhận (từ chối) thìkhông cấu thành tội nhận hối lộ vì hai bên vẫn chưa có sự thỏa thuận xong vềviệc đưa và nhận hối lộ.
Thứ hai, chủ thể: chủthể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, khách thể:Hành vi phạm tội xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước, tổchức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức khinh tế của nhà nước hoặctổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Thứ tư, mặt chủ quan:Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và với động cơ vụ lợi.
Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản được cấu thành như thế nào?
Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017:
Điều 174. Tội lừa đảochiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủđoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đếndưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trườnghợp sau đây...
Các yếu tố cấu thànhtội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm:
Thứ nhất, mặt kháchquan: của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vidùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn giandối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tinđó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thểbằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hànhđộng … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đembán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khácnhư giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
- Chiếm đoạt tài sản,được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khácthành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quanhệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Như vậy, có thể phânbiệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạncân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hànggiả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dốikhách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Thứ hai, khách thể:Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Thứ ba, mặt chủ quan:Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Thứ tư, chủ thể: chủthể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Vì vậy, d
